Mới đây, một câu chuyện hài hước được lan truyền rộng rãi: một chậu quần áo học sinh để lâu ngày mọc lên nấm. Tuy nhiên, nấm không chỉ có thể bò lên quần áo mà còn có thể bay và đào hang dưới lòng đất.
Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng nấm vẫn ở xung quanh chúng ta. Nấm thải ra hàng triệu tấn bào tử vào khí quyển mỗi năm. Những bào tử này bay lơ lửng trong không khí, rơi xuống đất ở xa hoặc bám vào quần áo của chúng ta rồi được chúng ta mang vào tủ, nơi chúng mọc lên trên quần áo hoặc trong các góc tủ. Các bào tử nấm thậm chí có thể bay lên trời theo gió và các nhà khoa học đã tìm thấy bào tử nấm trong các đám mây.
Ngày nay, các nhà khoa học tin rằng bào tử nấm có thể thúc đẩy sự hình thành đám mây. Điều này là do sự ngưng tụ hơi nước trong khí quyển thành các giọt nước cần có hạt nhân ngưng tụ, có thể là các giọt dung dịch hóa học như clorua, nitơ và cacbon hoặc các hạt rắn như bụi nhỏ. Càng nhiều hạt nhân ngưng tụ thì càng có lợi cho quá trình ngưng tụ hơi nước thành giọt nước, từ đó tạo thành mây.
Là một chất rắn cực nhỏ, bào tử nấm có thể cung cấp một số lượng lớn hạt nhân ngưng tụ cho các giọt nước, từ đó thúc đẩy sự hình thành đám mây. Nếu trời mưa, bào tử sẽ rơi xuống đất theo những hạt mưa, sau đó bén rễ và hoàn tất quá trình lan rộng.
Ngoài việc lan rộng bằng bào tử, nấm còn dựa vào sợi nấm mọc trên bề mặt hoặc dưới lòng đất để mở rộng lãnh thổ. Sợi nấm là một cách lây lan nấm rất hiệu quả. Nó tương tự như rễ cây nhưng nhỏ hơn và dài hơn. Sợi nấm không chỉ có thể bám rễ trong đất mà còn ở các bãi rác đô thị hiện đại.
Nếu bạn đào đất có chứa sợi nấm, bạn sẽ thấy sợi nấm tiếp tục kéo dài, với tổng khoảng cách lên tới 100 mét. Sợi nấm dài nhất thế giới là ở Hoa Kỳ, dài 10 km, nặng hàng trăm tấn và cũng là sợi nấm sống lâu nhất, với tuổi đời 2400 năm.
Mối quan hệ giữa nấm và nấm truyền nhiễm cũng giống như mối quan hệ giữa hoa hoặc quả với cây.
Nấm chỉ là nơi nấm truyền nhiễm sản sinh ra bào tử và không phải loại nấm truyền nhiễm nào cũng phát triển thành nấm. Phần lớn nấm truyền nhiễm có thể sinh bào tử mà không cần nấm. So với hàng triệu tấn nấm, nấm truyền nhiễm sản sinh ra khoảng 45 triệu tấn bào tử mỗi năm.
Nấm truyền nhiễm xuất hiện trên Trái đất sớm nhất là một tỷ năm trước và từ hơn 400 triệu năm trước cho đến nay, chúng đã duy trì mối quan hệ cộng sinh quan trọng với hầu hết các loài thực vật. Nấm truyền nhiễm kết hợp với rễ cây tạo thành nấm rễ. Nấm truyền nhiễm chịu trách nhiệm thúc đẩy sự hấp thụ các chất vô cơ như nitrat và phốt phát của thực vật và thực vật cung cấp cho nấm một số chất hữu cơ được tổng hợp bằng quá trình quang hợp.
Hơn 90% thực vật có nấm rễ và nhiều loại thực vật không thể tồn tại nếu không có nấm truyền nhiễm. Ngoài việc hình thành mycorrhizae, nấm truyền nhiễm còn kết hợp với tảo và các sinh vật khác tạo thành mạng lưới chặt chẽ. Trong một số môi trường, những mạng lưới này thậm chí có thể thay thế rễ cây, liên kết chặt chẽ đất với nhau, từ đó duy trì nước và đất, và địa y là đại diện của chúng.
Địa y là sinh vật cộng sinh được hình thành do sự kết hợp giữa nấm và tảo hoặc vi khuẩn quang hợp.
Sinh vật cộng sinh này có thể tồn tại trong một số môi trường đáng kinh ngạc. Ngay cả ở sa mạc Sahara cũng có thể tìm thấy địa y. Chúng không chỉ phát triển mạnh trên một số bãi cát nóng mà còn ổn định bề mặt cát, làm giảm sự hình thành bão cát.
Các nhà khoa học cũng đã tìm thấy địa y ở Nam Cực. Chúng sống ở một thiên đường hẻo lánh, cách xa con người. Mặc dù chúng sống trong môi trường cực lạnh với bức xạ cực tím cường độ cao nhưng dường như không có vấn đề gì. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì địa y cũng đã được đưa vào không gian.
Ngoài sự cộng sinh với thực vật, tảo và vi khuẩn, nấm còn có thể cộng sinh với động vật, chẳng hạn như kiến.
Các loài kiến cắt lá khác nhau hình thành sự cộng sinh tương hỗ với các loại nấm khác nhau. Kiến cắt lá nuôi nấm cộng sinh bằng lá cắt nhỏ và loại bỏ các sinh vật khác đe dọa nấm, đồng thời nấm sản sinh ra sợi nấm mở rộng để cung cấp thức ăn cho kiến cắt lá.
Năm 2017, các nhà nghiên cứu đã tái dựng lại chế độ ăn của người Neanderthal từ hơn 40.000 năm trước và phát hiện ra rằng một loại nấm mốc xuất hiện trong chế độ ăn của người Neanderthal mắc bệnh răng miệng.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu suy đoán rằng nấm đã thâm nhập vào đời sống con người vào thời điểm đó. Đến năm 1928, việc phát hiện chính thức kháng sinh penicillin đã cứu sống vô số sinh mạng và penicillin có nguồn gốc từ Penicillium.
Hiện nay nấm là nguồn cung cấp nhiều loại thuốc quan trọng. Cyclosporin, được chiết xuất từ nấm Tolypocladium inflatum, hiện là thuốc ức chế miễn dịch an toàn và hiệu quả nhất.
Ví dụ, cyclosporin làm giảm phản ứng thải ghép do ghép tạng bằng cách ức chế các phản ứng miễn dịch, từ đó làm tăng tỷ lệ ghép tạng thành công (nhưng do ức chế phản ứng miễn dịch nên cyclosporin cũng mang lại tác dụng phụ là dễ bị nhiễm trùng). Ví dụ, psilocybin, được chiết xuất từ nấm gây ảo giác, có thể làm giảm trầm cảm và lo lắng nghiêm trọng một cách hiệu quả.
Vai trò của nấm đối với con người còn nhiều hơn thế. Các nhà khoa học ước tính có khoảng 2,2 triệu đến 3,8 triệu loài nấm trên thế giới và con người hiện chỉ nhận biết được 6% trong số đó. Sự hiểu biết của con người về nấm chỉ mới bắt đầu, ai biết được nấm sẽ mang lại những bất ngờ gì cho con người trong tương lai đúng không?