Con cò được biết tới với bộ lông hoàn toàn màu trắng. Theo nghĩa rộng, con cò là thuật ngữ chung để chỉ các loài chim thuộc họ chim lội chân dài. Theo nghĩa hẹp, nó đặc biệt đề cập tới con cò.


Có 13 loài cò khác nhau được tìm thấy trên toàn thế giới. Những loài này thường được gọi là cò do bộ lông chủ yếu màu trắng của nó.


Diệc lớn là loài lớn nhất và không có cả mào và lông ngực, trong khi diệc cỡ trung có kích thước trung bình và không có mào nhưng lại có lông ngực. Mặt khác, cò và cò tuyết có kích thước nhỏ hơn và sở hữu cả mào và lông ngực.


Thông thường, một con cò cao khoảng 90 cm và có mỏ có thể dài tới khoảng 30cm. Nó sở hữu chiếc cổ dài, thon, và đôi chân màu xanh lục. Con cò có ngón chân tách biệt và đuôi ngắn.


Một số loài cò có lông dài trên đỉnh đầu, được gọi là mào, chúng dùng làm mồi nhử khi câu cá. Chúng có đôi cánh tròn, lý tưởng để bay.


Cò thường được thấy trong các môi trường như cánh đồng lúa, bờ biển, và đầm lầy, nơi chúng ăn nhiều loại cá, tôm, và côn trùng. Những khu vực này vừa là nhà vừa là quán ăn cho những con chim này.


Cò là những ngư dân lành nghề, một con cò có thể bắt được khoảng 4-5 con cá cỡ lòng bàn tay trong một ngày. Nếu bạn cạnh tranh với một con cò trong việc câu cá, bạn có thể khó sánh được với sự thành công của chúng.


Vào một buổi sáng đầy nắng, không có gì lạ khi bắt gặp một con cò nhàn nhã đứng trên ngọn cây nhỏ. Mọi người thường cho rằng chúng đang quan sát xung quanh, nhưng sự thật chúng làm vậy để cảnh giác trước những kẻ săn mồi tiềm tàng. Vì thế, chúng đứng ở độ cao như vậy để duy trì sự tỉnh táo.


Cò thể hiện nhiều hành vi bay khác nhau. Đôi khi, chúng bay lên cao theo cặp, biến mất vào trong mây. Vào những lúc khác, chúng bay lượn thấp, tinh nghịch săn tìm thức ăn. Chúng cũng có thể đậu và nghỉ ngơi trên bờ biển hoặc rạn san hô.


Những hình ảnh trắng thanh lịch của chúng lướt đi một cách duyên dáng trên làn nước lung linh, tạo nên những vòng cung tuyệt đẹp trên không trung.


Cảnh tượng quyến rũ của những con cò thường lôi kéo người xem dừng lại và chiêm ngưỡng chúng. Những con chim này nổi tiếng là “ chim giám sát ” để đánh giá các điều kiện chất lượng nước và khí quyển, cho thấy độ nhạy cao và sự phụ thuộc của chúng vào môi trường sống nguyên sơ.


Những thay đổi về quần thể cò trắng đóng vai trò là chỉ số năng động để giám sát môi trường khu vực.


Cò chủ yếu sinh sản từ tháng 5 đến tháng 7, thích làm tổ giữa các vách đá ven biển hoặc trong các cành cây nhỏ. Chúng thường làm tổ thành từng đàn, một số tổ chứa tới 14 con cò trong phạm vi chỉ 20 mét vuông trên địa hình đá.


Tổ cò có cấu trúc đơn giản, giống như những chiếc đĩa nông và được xây dựng chủ yếu bằng thân cỏ chết và lá. Trứng của cò có màu xanh nhạt, còn con non mới nở có màu xám nhạt với màu trắng, giống như những chú gà con có lông tơ.


Trong vòng khoảng một tháng, chúng phát triển bộ lông màu trắng như tuyết, màu dâu tây đặc trưng của mình, trở thành thành viên chính thức của gia đình diệc lớn.